Giới thiệu Hệ thống Dầu khí
Các dữ liệu hệ thống dầu khí bao gồm:
- Tình hình khai thác và sử dụng dầu khí: từ trước đến nay, dầu thô luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Tổng Công ty Dầu khí. Năm 2014, Sản lượng dầu thô và condensate đạt 17,3 triệu tấn (bằng 107,3% kế hoạch). Sản lượng khí ẩm về bờ đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ m3 (107,4% kế hoạch), cao nhất từ trước đến nay. Trong những năm qua, sản lượng dầu thô khai thác của Việt Nam tăng lên do chúng ta đã liên tục phát hiện thêm những dòng dầu khí mới, phát triển các mỏ đang khai thác và đưa vào khai thác những mỏ mới. Dự kiến sản lượng dầu khí khai thác có thể đáp ứng nhu cầu trong nước đến năm 2025.
- Tình hình xuất nhập khẩu dầu thô: các số liệu cho thấy sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây có xu hướng giảm để đảm bảo cung cấp cho nhu cầu trong nước.
- Công nghệ khai thác và chế biến dầu khí: các công nghệ chế biến dầu khí ở Việt Nam tương đối hiện đại. Các thiết bị được tính toán với độ bền trong điều kiện làm việc trên biển tối thiểu 20- 25 năm. Các nhà máy lọc dầu được đầu tư công nghệ cao, tuy nhiên, dầu thô sẵn có ở Việt Nam phù hợp làm nguyên liệu đầu vào cho công nghệ này có trữ lượng khá ít.
- Hệ thống tích trữ và vận chuyển dầu thô: Hiện tại Việt Nam chưa có kho dự trữ dầu thô. Dầu thô trong nước sau khi khai thác được tàng trữ lên các tàu lớn và xuất khẩu ra nước ngoài. Các đường ống dẫn khí cũng đang được khẩn trương xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu khí cho các hộ tiêu thụ lớn như các nhà máy điện, các nhà máy công nghiệp tiêu thụ khí thấp áp, đáp ứng các nhu cầu khí cho công nghiệp hóa chất, phân bón, giao thông vận tải và sinh hoạt dân dụng.