An ninh năng lượng

An ninh năng lượng (ANNL) là một thuật ngữ có nghĩa bao hàm rộng, liên quan đến năng lượng, phát triển kinh tế, môi trường và các yếu tố chính trị, xã hội. Việc đảm bảo ANNL trên phương diện quốc gia chính là việc đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội liên tục, ổn định và với mức giá cả chấp nhận được. Quản lý ANNL là điều hết sức cần thiết trong quản lý và điều hành hệ thống năng lượng (HTNL) quốc gia.

An ninh năng lượng vốn được coi là “chìa khóa” để mỗi quốc gia và nền kinh tế của mình được “bảo vệ” khỏi các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến trạng thái kinh tế - xã hội của quốc gia và làm chậm hoặc ngăn cản đà tăng trưởng kinh tế.

Quan điểm phát triển năng lượng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, do vậy cần sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên một cách hợp lý, thiết lập an toàn năng lượng quốc gia, gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế. Ngoài ra việc phát triển năng lượng cần gắn chặt với việc giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững.

Tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là điện năng. Mức tăng trưởng cao của tiêu thụ điện năng (khoảng 14%/năm) trong tương lai gần sẽ gây ra sự thiếu hụt năng lượng và sức ép phải xây dựng thêm các nhà máy điện.

Theo thống kê, nguồn thủy điện ở Việt Nam được ước tính có tiềm năng khai thác khoảng 80 tỷ kWh/năm, trong khi đó nguồn năng lượng tái tạo có tiềm năng dự báo không quá 10 nghìn MW vào năm 2015. Do đó, nguồn điện năng có thể thiếu hụt lên tới trên 50 tỷ kWh vào năm 2030.

Hiện tại, vấn đề chính liên quan tới nguồn năng lượng truyền thống là biến động giá dầu và các sản phẩm dầu trên thị trường thế giới trong bối cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng dần cạn kiệt. Theo dự tính, các mỏ dầu tại Việt Nam hiện đang cho thấy dấu hiệu đi xuống về sản lượng. Việc mở rộng khai thác không đủ để giúp ngành dầu khí vượt qua được các khó khăn nếu Việt Nam không sớm tìm được các mỏ mới, sản lượng khai thác của ngành trong thời gian tới sẽ chứng kiến sự sụt giảm đáng kể.

Trong khi đó ngành than phát triển và khai thác bị hạn chế bởi hạ tầng phục vụ yếu kém, các công nghệ, thiết bị sử dụng lạc hậu. Với ngành than, ông Bình cho rằng, việc phát triển và khai thác cũng đang bị hạn chế bởi hạ tầng phục vụ yếu kém, công nghệ, thiết bị sử dụng lạc hậu.

Theo tính toán, nhu cầu năng lượng sơ cấp đến năm 2030 trên 250 triệu TOE, tăng gấp năm lần so với năm 2010. Cũng theo dự tính, thủy điện lớn sẽ khai thác hết trong thấp kỷ này, ngoài ra tài nguyên các nguồn năng lượng hóa thạch như than, dầu và khí có hạn.

Với nhu cầu thực tế như vậy, dự kiến năm 2015 Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than cho điện và Việt Nam sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung và giá năng lượng thế giới.